Hoạt động » Lịch sử » TRẦN HOAN TRINH - MỘT THỜI PHAN CHÂU TRINH

TRẦN HOAN TRINH

MỘT THỜI PHAN CHÂU TRINH

                                                                                                        HỒI KÝ

1.VÀO ĐỜI :

Tôi đến trình diện nhận việc tại trường Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng vào một ngày đầu tháng 9 năm 1958. Đó là một buổi sáng thứ hai đẹp trời.Trận mưa ban đêm đã kéo mây xám mùa thu đi hết, để lại một bầu trời xanh lơ, cao vòi vọi. Học sinh đang tập trung giữa sân trường, dự lễ chào cờ đầu tuần .Tiếng đồng ca nhịp nhàng, trầm bỗng theo gió bay xa, cuốn lấy tâm hồn tôi, một tâm hồn đang háo hức bỡi sự mới lạ, đang say sưa trước ngưỡng cửa vào đời. Tôi chờ buổi lễ chấm dứt, tiếng hô "thôi" của vịgiám thị vang lên, mới mở cổng đi vào. Con đường từ cổng trường đến bậc thềm chỉ một đoạn mà thấy dài vô tận. Đi giữa hai hàng áo trắng lung linh , những đôi mắt đen nhánh , những tiếng thì thầm, chân tôi như nhũn đi, như trôi trong một lớp sương khóibồng bềnh ….Phòng Hiệu Trưởng nằm ngay giữa , sau bậc tam cấp lên xuống. Phòng đượcchia hai, ngăn bỡimột tấm vách bằng ván mỏng sơn màu thanh thiên . Phía ngoài kê hai bàn dài làm phòng Giáo sư , phía trong là bàn làm việc của Hiệu trưởng. Hiệu trưởng lúc bấy giờ là thầy Nguyễn Đăng Ngọc, đẹp trai, khi đó còn rất trẻ .Đây là vị Hiệu trưởng chính thức đầu tiên của trường. Các vị Hiệu trưởng tiền nhiệm thật ra chỉ là Quyền Hiệu trưởng thôi : thầy Lê Khắc Giai, thầy Trương cảnh Ngôn, thầy Huỳnh văn Gi, thầy Bùi Tấn , vì thời gian trước đây, trường chưa đủ cấp số về lớp để có thể hưởng qui chế của một trường Trung học hẳn hoi .Thầy Ngọc là một vị Hiệu trưởng đáng kính, có tinh thần trách nhiệm cao, rất thương yêu và gần gũi với học sinh. Tôi học được rất nhiều điều sau này từ thầy.Thầy nhận lời trình diện của tôi, hỏi qua về gia đình, về sức khoẻ và cho tôi biết phân công giảng dạy. Thầy dẫn tôi ra phòng Hội đồng, giới thiệu với một số thầy cô có mặt hôm đó, đang ngồi chờ giờ lênlớp .Tôi gặp lạinhiềubạn cũ hồi Trung học, các Anh Chị đỗ xong Tú Tài 1, Tú tài 2 là đã đến đây giảng dạy rồi ( thuở ấy , đỗ TÚ TÀI là ghê lắm rồi ). Sau này, khi trường Đại học Huế được mở ra, một số đông đã thôi dạy để đi học tiếp , hoàn thành trình độ đại học của mình . Trường Phan châu Trinh năm đó qui mô còn nhỏ , Hội đồng Sư Phạm chỉ có khoảng 20 vị, tôi còn nhớ tên: thầy Phạm hửu Khánh, thầy Trần Tấn, thầy Bùi Tấn, Trần Ngọc Quế, Đặng Minh Trai , Phan Đăng, Lý Châu, Nguyễn văn Đáo, Nguyễn Tòng, Tôn thất Tạ, Nguyễn trung Hối, Phạm văn Ấm, Hoàng Bích Sơn, Lâm sĩ Hồng, Phan công Hân,cô Kim Đính, cô Đặng Thị Liệu, cô Bội Hoàn, cô Ngọc Quỳnh, cô An Hà Châu , bà Trần Ngọc Liễn, cô Trương thị Thúy…Tổng giám thị là thầy Phan Đăng , sau là thầy Trần Hữu Duận .Văn phòng có bác Bửu Diêu, bác Nguyễn Kế, anh Nguyễn Đỗ Thuận, cô Trần Đình Chín , anh Nguyễn Văn Thiên , bà Nguyễn khoa Dánh . Bảo vệ có 2 bác Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Văn Thôi : đây là 2 anh em ruột , lớn tuổi, làm việc tận tụy, xem các thầy cô trong trường như con mình .Cơ ngơi của trường PCT năm tôi đến còn rất nhỏ, trường mới có 16 phòng, vừa làm phòng học, vừa làm văn phòng: 8 phòng trệt lợp ngói nhìn ra đường Lê Lợi, dịp hè vừa rồi xây thêm 8 phòng 4 trệt 4 lầu, vuông góc với dãy phòng cũ, lưng quay về đường Thống Nhất ( nay là Lê Duẫn) .Khi Pháp về nước, trường Tiểuhọc của Pháp được trao cho trường PCT sử dụng . Cơ sở này có 4 phòng , lưng sát với đường Lê Lợi, 1 phòng làm tư gia của Hiệu trưởng, 3 phòng còn lại dùng để dạy những giờngoại khóa: vẽ, nhạc, nữ công gia chánh. Mặt trước là một sân rộng, cây cối sum sê, nắng im gió mát quanh năm, dùng để tập Thể dục, hoặc cấm trại trong những dịp hè, dịplễ, …..Khuôn viên trường PCT hồi đó rộng bao la, trãi dài từ đường Thống Nhất đến tận hông trường Phan Thanh Giản , giờ chơi học sinh tản ra bốn phía đùa vui thoải mái. Sân trường còn trải cát, chỗ cao chỗ thấp, bao quanh bằng một hàng kẽm gai quân đội thấp lè tè, đứng bên ngoài có thể nhìn thấy hết mọi sinh hoạt bên trong .Cây cối trên sân chính chỉ cómấy hàng dương liễu, hàng phượng mới trồng, lơ thơ, ẻo lả trước gió. Năm sau, các hàng cây này được nhổ bỏ đi, trường có kế hoạch trồng các cây sao, cây xà cừ thay vào, bây giờlên cao vút. Thời gian này học trò chưa đông, thầy cô chưa nhiều, nên thầy trò gắn bó thương yêu nhau vô cùng. Sau này tôi vẫn nghĩ lại: chưa có thời gian nào tôi được sống giữa đồng nghiệp, giữa học sinh một cách thân tình, vô tư và trong sáng như vậy.

2. MỘT THỜI PHAN CHÂU TRINH :

Trong đơn chọn nhiệm sở khi tốt nghiệp, tôi ghi 3 nguyện vọng: 1. Sài gòn, 2. Huế, 3. Nha Trang. Cả 3 đều không được đáp ứng, Bộ Giáo Dục lại cử tôi về Đà Nẵng. Chắc là định mệnh. Âu là duyên số.Tôi vẫn đinh ninh : thôi thì ráng vài năm ở đây, sẽ tìm đất lành để đậu sau. Thế mà lần lữa tôi đã ở đó 40 năm đăng đẳng , từ 1958 đến 1998 ! Tôi lớn lên cùng ngôi trường PCT, tôi hàng trước : th.Hối , th.Tạ -hàng sau : th.Nhự , th. Tăng chứng kiến bao nhiêu thay đổi. Năm 1958 , cơ ngơi nhỏ chỉ có 16 phòng; năm 1960 xây thêm 4 phòng tiếp nối vào dãy giữa; năm 1962 thêm 10 phòng cho dãy lầu bên phải; năm 1967-1968, dưới thời Hiệu trưởng Thái Doãn Ngà , trường được đúc móng dựng trụ lên lầu, hành lang dài ngút mắt, Thư viện, phòng Thí nghiệm, Hội trường,Văn-phòng…..Sân trường được đỗ đá tráng nhựa,cổng trường được xây mới bề thế uy nghi .Cơ sởtrường lầu ngang dãy dọc, trở thành một ngôi trường lớn nhất nhì của miền Trung, của đất nước. Sau nàytrường mở mang lớn, đón tiếp nhiều thầy cô giáo học giỏi, bằng cấp cao về giảng dạy, nhưng thú thật, những thập niên 60,70 tôi được phụ huynh học sinh trọng vọng, được học sinh ngưỡng mộ vô cùng. Tôi đã được mời dạy thêm môn Toán tại các trường tư : Bán Công, Sao Mai, Bồ Đề, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản,Thánh Tâm, Tây Hồ, Ánh Sáng, Nguyễn Hiền, Vinh Sơn, Thành Nhân,Diên Hồng, Hồng Đức, ….Có trường tôi dạy nhiều năm, có trường tôi chỉ dạy 1 năm hoặc 1 học kỳ. Tại PCT , tôi đã công tác dưới 10 trào Hiệu trưởng : thầy Nguyễn đăng Ngọc, Ngô văn Chương, thầy Châu Trọng Ngô,Trần Vinh Anh, Thái Doãn Ngà, Huỳnh Mai Trác, thầy Lê phú Lộc ,Trương Đình Nam, Đoàn Khải, Nguyễn Tiến Hành.Đó là chưa kể một thời gian dài trường không có Hiệu trưởng , anh Trần hửu Duận , Tổng Gim Thị phải xử lý Thường vụ . . Tôi đã mang quan tài của Hiệu trưởng Trần Vinh Anh, học trò cũ của PCT, từ Nha Trang về trường, khi Anh bị học sinh sát hại trong một lần coi thi Tú Tài 1; tôi đã theo sau linh cửu của 3 vị Hiệu trưởng của mình để đưa quí vị về nơi an nghỉ cuối cùng. Một số anh em đồng nghiệp của tôi đã nằm xuống khi tôi có mặt tại trường:thầy Phạm Hửu Khánh, thầy Trần Tấn, thầy Bùi Tấn, Hoàng Toại, Trần Ngọc Quế, Đặng Minh Trai, Nguyễn Giai, Trương Thị Thúy, Đặng Xuân Nhi, Ngô Hửu Ngọc, Cát Văn Uẩn, Trương Đình Đức,Trần ngọc Thành, Nguyễn Lương Hiền, Trần Công Kiểm, Bùi Đình Nhuận, Đặng Thiết, Nguyễn Ngọc Định,Võ Thị Bốn, Nguyễn Văn Thảo, Phan Đình Vy, Huỳnh Ấn, Đỗ Toàn,……Tôi đã vào dạy tại bao nhiêu lớp ? Tôi đã có bao nhiêu học sinh chính thức học với mình? Bao nhiêu học sinh của tôi đã ra trường, đã thành, đã bại? Số học sinh "thành "rất nhiều nhưng số học sinh "bại " cũng không nhỏ. Người đời có thói quen chỉ nhắc đến những học sinh thành chẳng mấy khi nhắc đến những học sinh bại. Đó là một điều đáng trách! Các em diện này thườngâm thầm, gặp thầy thì cúi mặt im lặng,không tự tin để đến thăm thầy đàng hoàng như các em "thành”. Các em tự ti mặc cảm nên thường không đến tham dự những lần bạn bè cùng lớp tổ chức họp mặt. Một chiều thứ bảy tôi đang lang thang trên đường Trần Quốc Toản Sài gòn , một người đàn bà vụt xô đến ôm chầm lấy tôi, mừng rỡ đến khóc nức nở. Thì ra đó là một học sinh cũ của tôi cách nay đã hơn 30 năm, một thời nỗi tiếng là đẹp.Người học trò cũ cứ mừng vui hỏi thăm đủ chuyện trường xưa , lớp cũ, quên cả thời gian chiều đã vào đêm, thành phố đã lên đèn ! Có lần tôi đi xe ôm, khi xuống người chở xe nhất định không lấy tiền, cứ bảo em là học trò xưa của thầy, thầy quên đó thôi, nhưng hỏi tên thì không nói. Có lần chiếc xe gắn máy cà tàng 32 năm của tôi dở chứng đạp mãi không nỗ, một người đàn ông lớn tuổi lem luốt ngồi vá xe ở ngã tư đường chạy ra giúp: thầy ngồi lên xe đi, em đẩy cho; xe nổ, tôi cám ơn thì được bảo: em là Tham đây, Tham còm học lớp 12A, thầy không nhớ sao? Giữa thành phố Đà nẵng này có 2 người điên hay đi lang thang, 2 người ấy là học trò cũ của tôi cả. Không biết những ai còn nhớ thầy? Và chắc thầy cũng chẳng nhớ mặt mấy ai! Nhiều học sinh đã học trực tiếp với tôi, sau trở về làm đồng nghiệp của tôi tại trường PCT này. Nhìn danh sách Thầy Cô trong Đặc San kỷ niệm 45 năm, tôi đếm thầm: có đến hơn 80 vị .Tôi đâu có nhớ hết được , các anh các chị nhắc lại đấy thôi. Dạy tại các trường khác thì chắc còn nhiều hơn nữa .Cũng có người không nhìn thầy, ngó lơ khi gặp, nhưng phần lớn đều dành cho tôi những cảm tình đặc biệt, thiết tha. Các dịp Lễ, dịp Tết , ngày Nhà Giáo, ngày Truyền Thống, v.v…, có bao giờ tôi rãnh rang đâu ! Một chiều ngày 20-11 mưa gió tưng bừng, anh Lê Phú Kỳ, một hiệu trưởng uy tín, hiện là Hiệu Trưởng trường T.H. Phan Châu Trinh ĐN , đội gió dầm mưa, một tay ôm hoa, một tay níu vạt áo mưa để ngăn mưa ướt, đến kêu cổng nhà tôi. Nhìn mưa rơi trên những cánh hoa hồng hoa cúc, mưa rơi trên tóc trên má anh, chợt thấy lòng mình cũng mưa rơi lai láng!Trong tiệc cưới ở nhà một người bạn, bất ngờ có một đôi vợ chồng lớn tuổi, tóc đã muối tiêu,mãi đến bây giờ tôi cũng không nhớtên, chạy đến ôm choàng lấy tôi, ríu ra ríu rít :”thầy đây sao, thầy Tăng đây sao, bây giờ tóc thầy bạc đến thế này sao?” Chắc 2 người vẫn còn giữ trong lòng hình dáng trai trẻ của tôi thuở nào! Rồi chồng hônlên má trái, vợ hôn lên má phải, làm tôi quá ư cảm động và ngượng ngùng trước mặt quan khách. Những kỷ niệm đẹp, tình cảm dào dạt như vậy cứ làm lòng tôi xao xuyến bâng khuâng mãi .

 3. Một đời thơ :

Một sung sướng vô biên của tôi là, trong những lần họp mặt ,những học sinh cũ của tôi, nay tóc đã muối tiêu, đã là cha, là ôngbà nội, ông bà ngoại, đứng dậy đọc lại những bài thơ tôi đã làm lúc còn trẻ, đã đăng trong các báo hoặc Đặc san, những bài thơ mà chính tôi cũng không còn nhớ trọn vẹn nữa! Các anh các chị đã đọc lại trơn tru, say sưa, thiết tha, kể kèm theo những kỷ niệm học sinh của mình, làm lòng tôi ngây ngất. Đã đành tôi hằng nhủ lòng: mình làm thơ cho vui thôi, để ghi lại những cảm xúc của mình , để giữ lại những kỷ niệm của mình ,để có dịp nhìn lại mình , để giải toả một chút lòng, để quên đi những ẩn ức, mong gì ai khen ai nhắc, chung quanh mình nhiều tài năng lớn quá , nhiều nhân tài quá . Dầu vậy , nghe các anh chị học trò cũ của mình đọc lại thơ mình, lòng cũng thấy sung sướng vô biên, vô cùng hạnh phúc: "thì ra cũng có người biết đến thơ ta !” Tôi ghi ra đây vài hạnh ngộ mới nhất , gần nhất , để kỷ niệm, để nhớ.

Huỳnh Đăng Hổ. , Giám đốc Khách sạn Cựu Kim Sơn, đã đọc tặng lại tôi bài thơ DẠY TOÁN và bảo:trong các vở học của em hồi đó, vở nào em cũng có chép đoạn thơ :

"Vòng tròn! Ờ! Vòng tròn….
 
                          Tròn như đôi môi em
 
                          Tròn như đôi mắt em
 
 Tròn như tình yêu em!....”

Huỳnh Văn Khánh , hiện nay là thành viên BLL Cựu Học sinh PCT th/p HCM, trong một lần đến thăm, đã đọc lại bài BAN SƠ, bài thơ tôi đăng trong Đặc san cuối năm 1959-1960 :

            "Nắng kinh kỳ tim tím sớm mùa xuân
 
             Lời sơ giao để buông lững mơ hồ
 
             Ngắm người qua nghiêng chiếc nón bài thơ
 
 Giải nón hồng thẹn thẹn che bờ môi
 
 Tôi thấy tim reo thương mến lâu rồi……”

Anhcòn bảo: bài thơ của thầy đưa em vào đời đó, thầy ơi ! Tôi nhủ lòng sẽ hỏi anh cặn kẻ hơn, nhưng chưa có dịp. Lê Cao Qúy, mục sư, đại diện Hội Thánh Tin Lành Trung nguyên Trung phần, cảm động khi đọc bài thơ TIẾNG SÓNG của tôi:

                         "Sao chẳng về đây thăm cửa lớp

                          Nhìn ta tóc trắng cố nhân ơi

                          Tặng cho ta đoá hoa hồng nhỏ

                          Và tiễn ta bước xuống cuộc đời”

Trong một lần đến thăm tôi, Anh đã đọc bài Xác Định với một giọng cảm xúc vô biên, và bảo : bài thơ này một hôm thầy tặng em trên hành lang trường; anhđưa tôi xem trang thơ tôi chép hồi đó, anh đã giữ một cách trang trọng, kỹ lưỡng, dù tờ giấy qua năm tháng thời gian đã úa vàng.

Nguyễn Tăng Miên, bác sĩ trưởng phòng ngoại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng :

"Hôm ấy đọc bài thầy im nửa chừng
Cả lớp ngẩn ngơ trông lên bục giảng

Thầy đang lặng nhìn ngoài cửa  mưa xuân…….”


Nhà báo trẻ Trương điện Thắng , trong một lần họp mặt thầy xưa bạn cũ tại Seamen’sClub ĐN , đã đến chào tôi và bảo: Thầy ơi ! Bài thơ THỎ THẺ của thầy dễ thương quá, em còn nhớ mãi đến bây giờ , rồi anhcao gịong ngâm :

              "Mình kể chuyện Hồ Tây gió mưa

               Quê mình những buổi nắng lưa thưa
 
               Những đêm Hà Nội đầytrăng sáng
 
               Trời với trăng in xuống đáy hồ

               Quê tôi cũng có nắng rưng buồn
 
               Những buồi mây và tơ vấn vương
 
               Mình về tôi chỉ cho mình thấy
 
               Huế áo hoa bay ngập phố phường……”

Tôi xuất bản tập thơ đầu tay TÔI KHÓC EM CƯỜI năm 1959 . Đó là một ngẫu hứng ngông cuồng của tuổi trẻ . Dầu vậy khi tập thơ phát hành , được các học sinh của tôi chào đón nhiệt tình .Trước 1975 , tôi hay đăng thơ mình trên các tờ báo , nên nhiều em học sinh biết đến thơ tôi ! Sau 75 ,bận rộn công việc , mãi mê với chuyện dạy thêm dạy kèm , tôi không gửi báo đăng thơ nữa. Do đó ít em học sinh biết ông thầy dạy toán của mình làm thơ ! Dầu vậy , thời gian này tôi vẫn sang tác đều đều , chỉ có làm được bài thơ nào thì chỉ để đó ! Sau này ,khi mở lại những cuốn vở bài tập , vở nháp , thấy những bài thơ mình nằm xen kẻ ngổn ngang với những vòng tròn , hình vuông ,mặt phãng , phương trình …….nhiều khi bắt tức cười !

Tôi đã được học sinh mình 4 lần in thơ cho . Bốn lần trong một đời thơ bé nhỏ , thật cảm động.

Năm 1997 , khi biết tôi sắp nghỉ hưu , anh Nguyễn Sanh Nguyên , lúc bấy giờ là Phó Hiệu Trưởng trường chuyên Lê Quý Đôn ,ĐN đã ngồi cặm cụi ngay giữa văn phòng Hiệu Phó của mình, ngày này qua ngày nọ , đánhvi tính hết tập thơ BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI của tôi . Anh đã cùng một số bạn bè trước là học trò cũ của tôi tại LQĐ : Lê Phú Kỳ , Nguyễn Tro , Hoàng Dục , Hồ Phúc , Huỳnh Khải ,Nguyễn Tuận ,….. in ấn , đóng xén , trình bày đẹp đẽ tập thơ ấy rồi tổ chức một ĐÊM THƠ đậm đà tình nghĩatại trường chuyên LÊ QUÝ ĐÔN, để giới thiệu. Tôi còn nhớ giọng ngâm thơ thiết tha tình cảm của cô giáo dạy vănnổi tiếng Đoàn thị Nhỏ bài thơ Bỏ Trường Mà Đi .Tôi cũng nhớ tiếng hát của thầy giáo nhạc sĩ trẻ đa tình hào hoa HỒ PHÚC ,bài BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI do chính anh phổ nhạc .Tiếng thơ , tiếng nhạc cứ quấn quít , vấn vương theo tôi mãi trên đường về đêm ấy và còn âm vọng mãi đến tận bây giờ !


Cuối năm học 96-97 ,các anh Trần Minh Thuấn, Nguyễn thành Năng, đã cùng với các học sinh cũ PCT 1967-1974xuất bản cho tôi một tập thơ để kỷ niệm ngày tôi sắp nghỉ hưu : tập Tóc Trắng Sân Trường (Nhà Xuất Bản Trẻ 1997)Năm 2002 , khi biết tôi muốn xuất bản một tập thơ nữa để kỷ niệm ngày bẻ phấn hẳn , đồng thời để kỷ niệm 50 năm thành lập trường PCT, tập TIẾNG CHIM NGOÀI CỬA LỚP , cô học trò cũ TRẦN THỊ VI HIẾN , ngày xưa học rất giỏi , rất đẹp , rất dễ thương , bây giờlà Phó Giám Đốc nhà Xuất Bản Giáo Dục tại Miền Trung , đã hăng hái cáng đáng hết mọi công việc , từ A đến Z , với một vẻ niềm nở tận tình tha thiết vô cùng .Lần thứtư cảm động và bất ngờ nhất : nhân dịp Kỷ niệm 50 năm thành lập trường PHAN CHÂU TRINHĐN , một số các anh chị học sinh cũ PCTtại hải ngoại , nhóm TRÒ XƯA , xuất bản cho tôi một TUYỂN TẬP THƠ TRẦN HOAN TRINH , cũng lấy tên là BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI . Các anh chị đã chọn122 bài thơ trong suốt MỘT ĐỜI THẦY MỘT ĐỜI THƠ , in ấn rất đẹp. Trình bày bìa trước bìa sau rất trang nhã , kèm một số bài viết rất tình cảm , rất cảm động . Tôi được biết nhóm TRÒ XƯA này , chủ xướng là vợ chồng Phan thiện Ái & Đoàn thị Đa, Phan thị Thu Liên, Phan thị Thu Hà, Lê thị Thanh Sơn , Nguyễn phước Dương, Trần thị Cẩm Lai , Nguyễn hửu Viện ,…….. cùng với một số anh chị khác.Người ở Mỹ, người ở Canada, người ở Pháp, người ở Bỉ, người ở VN,…… Đây là một hạnh phúc hiếm hoi quá lớn lao đối với một đời cầm phấn. Biết nói gì hơn , tôi chỉ xin đón nhận thân tình.

Bỗng thấy ân tình nặng tựa non

Tang thương dâu bể cũng vuông tròn

Có em trường lớp thành hư ảo

Nghe ấm trong lòng một sắt son

( Đá vàng )







D:picturesBÌA TUYỂN THƠ CBNLMT.jpgCảm động hơn nữa : các chs PCT 65-72 anh đem lốt các bài thơ trong tập BỎ TRƯỜNG MÀ ĐI đó lên nhiều trang WEB kèm theo những hình ảnh minh họa rất công phu , rất đẹp , với lời kêu gọicác học sinh cũ PCT hãy phổ biến rộng rãi tậpthơ đó , để nhớ một người thầy đã xa …Cũng thời gian tôi về hưu, trường có tổ chức một Đêm Thơ Nhạc để đưa tiễn , nhìn thầy Mai Chánh Trí , một học sinh cũ thuộc lớp Đệ nhị cấp đầu tiên của PCT , đứng dậy nghiêm trang đọc bài thơ Thoáng Buồn của mình, lời run run , mắt kiếng rơi trễ trên sống mũi, tôi thấy cảm động và thương chi lạ ! Bấy giờ Anh cũng đã 60, sắp về hưu, là một người thầy dạy giỏi, lão thành của thành phố .. Là một thầy dạy Toán, nhưng có năm tôi làm Trưởng Ban Báo chí, một năm khác, tôi nhớ là 72-73, tôilàm Trưởng ban Văn nghệ. Lần đó, dịp cuối năm, 3 đêm văn nghệ của trường được tổ chức. Trong vở kịchNgười Chép Sử, do thầy Trần Thông đạo diễn, hình ảnh Trần Ngọc Châu ,trongvai Kinh-Kha, múa kiếm đọc thơ vẫn theo ám ảnh tôi mãi đến bây giờ :

"Áo xiêm khanh tướng trong thiên hạ
 
Đựng chửa đầy đôi mắt mỹ nhân !”
 
(thơ Mặc Thu )

Trần Ngọc Châu bây giờ là Tổng biên tập báo Saigon Times, một tờ báo lớn của VN.

Sau khi nghỉ hưu tại PCT , tôi có đến dạy tại 2 trường tư thục vừa được phép thành lập tại Đà Nẵng : DIÊN HỒNG và HỒNG ĐỨC . Dạy để tìm vui , được gặp gỡ bạn bè và để được gần gũi với đối tượng học sinh mình yêu thích . Nhưng dạy được4 năm tôi đành xin nghỉ hẳn: tôi muốn giữ lại hình ảnh đẹp của học sinh một thời trong lòng , dạy ở các trường này nhiều khi làm tôi choáng váng , thấy hình ảnh thần tượng của mình như bị bôi đen . Thôi nghỉ để tìm chút an bình thư thản cho tâm hồn . Với lại , tôi đã chiếm bục giảng lâu quá rồi , nhường lại cho lớp trẻ thôi . Những ngày tháng lang thang tại Sài Gòn cũng đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp khó quên , nhiều lần gặp gỡ học sinh cũ 40 , 50 năm cũ thật cảm động ! Trong thời gian này , để làm quà tặng MẸ nhân kỷ niệm 50 năm NGÀY THÀNH HÔN , các con của tôi đã xuất bản 1 tập Thơ nữa , tập CHÁY BỎNG NHƯ LỬA MẶT TRỜI , gồm 3 thi phẩm: QUÊ HƯƠNG THƠ VÀ EM , CHÁY BỎNG NHƯ LỬA MẶT TRỜI , BỖNG DƯNG NHỚ PHỐ NHỚ PHƯỜNG . Sách trình bày đẹp , lồng một số ảnh kỷ niệm của gia đình , do nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành .

Bốn mươi năm ở PCT tôi có bao nhiêu hạnh ngộ, bao nhiêu chia ly, bao nhiêu ân tình, bao nhiêu kỷ niệm! Kỷ niệm nào nhớ lại cũng làm tôi xao xuyến cả lòng !

4. Bỏ Trường Mà Đi:

D:picturesTRUONG PCTKY NIEM PCT 45 NAM.jpgTôi chính thức rơì trường PCT nghỉ hưu ngày 1.3.1998 (Quyết định số 986/QĐ-US ngày 20.2.1998 của UBND Đà-nẵng). Bốn mươi năm tại trường PCT !.Một thời gian rất dài nhưng sao tôi vẫn thấy quá ngắn! Khi đến, tôi là một gã con trai trẻ măng, má còn búng ra sữa, yêu đời, yêu người ,lòng bao nhiêu ước vọng .Khi về, tôi là một ông già đầu tóc bạc phơ, tâm suy trí cạn. Những năm cuối đi dạy, 1996, 1997, tôi thường có những lúc buồn bất chợt,buồn da diết.Những giờ nghỉ, tôi hay đi lang thang trên hành lang, từ lớp này qua lớp khác.Nhìn các em học sinh nô đùa, tinh nghịch, nghe tiếng cười tiếng nói xôn xao,nhìn những tà áo trắng theo gió bay vào cổng, nhìn những mái tóc đen mượt theo gió bay vào sân, lòng cảm thấy có cái gì rất thân thiết, rất thương yêu , sắp bỏ mình mà đi! Tôi hay đứng ngơ ngẩn bên gốc cây xà cừ già giữa sân, cây xà cừ này do lớp tôi làm cố vấn trồngnăm 1959, bây giờ cành lá xum xê, chĩa ra bốn phía, che kín cả một khoảng không gian của sân trường. Gió thổi hiu hiu làm lá cây giao động, và làm lòng tôi cũng giao động theo. Rất nhiều lần tôi có cảm tưởng như có tiếng ai đang thì thầm bên tai mình. Tiếng thì thầmcủa tuổi thanh xuân!Tiếng thì thầm của kỷ niệm !Tiếng thì thầm của hàng hàng lớp lớp học trò đã học ở đây và đã ra đi .Tiếng giảng bài. Tiếng trả bài. Tiếng hát. Tiếng ca.Tiếng cười khúc khích. Nhiều khi tôi mê mẫn đi. Thất thần. Mỗi viên gạch, mỗi vuông sân đều như muốn tâm sự. Mỗi lần lên lớp, nhìn học trò từ bục giảng, tôi có cảm tưởng đang đứng trong một biển sương mờ. Cuối giờ học, tôi còn đứng nhìn quanh nhìn quẩn, như đang tìm một cái gì đó mà chính tôi cũng không biết.

Có những chiều không có giờ dạy,tôi vẫn lang thang đi bộ đến trường chơi. Đứng một mình trên hành lang, nhìn nắng chiều xen qua các tàng cây, rơi những giọt lung linh trên sân.Gió thổi dăm chiếc lá chao mình, rơi lặng lẻ bên thềm, bên chân tôi.Tiếng giảng bài từ các phòng học gần đó vang bên tai, như mơ hồ, như vời vợi. Nhớ ngày nàotôi bước chân vào lớp dạy, ngỡ ngàng, rụt rè, không dám ngững mặt nhìn thẳng vào học trò, hết giờ đi như chạy về phòng Hội Đồng, tim còn đập liên hồi. Mới đó mà đã 40 năm ! Bao nhiêu vật đổi sao dời! Bao nhiêu người ra đi! Bao nhiêu người trở lại ? Bao nhiêu người nhớ. Bao nhiêu người quên.Còn lại mình tôi ở đây với một trời kỷ niệm!

Tôi chờchiều tàn dần trên sân trường, màu nắng nhạt đi, giờ họcvào giờ cuối rồi mới lặng lẻ ra về. Lê Lợi, Quang Trung, Đống Đa , Cao Thắng…Vẫn những con đường tôi đã đi bao nhiêu năm .Ngã tư. Ngã ba. Hàng cây. Bờ cỏ. Tôi ngâm khe khẻ:

Ta đến khi tóc xanh
Ta về khi tóc bạc………

Thấy buồn và cô đơn chi lạ !

Khi cầm giấy báo nghỉ hưu do Hiệu trưởng trao lại, tôi cố nặn ra một nụ cười để nói tiếng cám ơn, rồi hấp tấp chạy ra nhà xe, sợ mình sẽ oà ra khóc mất. Chạy xe một mạch về nhà, gục đầu xuống gối, thấy lòng trống trải hoang vu vô cùng! Trưa đó, lên phi trường, bay vào Sài gòn. Sài gòn ồn ào, náo nhiệt không làm vơi được nỗi buồn chan chứa trong lòng. Đi một mình lang thang qua các phố đông người, tiếng cười, tiếng nói, tiếng xe cộ inh ỏi, sao nghe xa vời, như từ đâu vọng lại….Chai bia chiều đắng ngắt ở cuối một ngã tư, ngồi cho đến khi bóng tối chập choạng thành phố. Nghe như mình đang tan đi, đang biến thành khói thànhsương. Bước nghiêng ngã trở về, áo mỏng phong phanh lạnh.Thấycuộc đời sao xa lạ, người đời sao dửng dưng. Trời về đêm đổ mưa. Vào trốn mưa dưới vòm hiênmột tòa cao ốc.Nhìn những cột mưa hối hả, xiên xiên dưới ánh đèn, nhớ lại một đêm xa, rất xa, giã từ thành phố này để " Đi Xuống Cuộc Đời ". Ờ ! Cũng một đêm Sài Gòn mưa như thế này tôi đã lên chuyến tàu suốt Sài gòn –Đà Nẵng đến PCT nhận việc ! Mới đó mà đã 40 năm. Thấy thời gian xa lăn lắc mà sao như mới đâu đây . Tạnh mưa, bước từng bước nhỏ trên mặt đường loang loáng nước, nghe tâm hồn dịu lại, lặng đi. Con đường Lê văn Duyệt (CMT 8 ) dài vô cùng, đêm nay càng thấy dài vô tận. Khu Bàu Cát mờ mờ trong đêm, đèn không đủ sáng. Đưa tay vuốt mái tóc sũng nước, bước vội lên cầu thang chung cư, nghe lòng mình sao điêu tàn quá đổi ! Ghi vội mấy câu thơ vừa đến trong hồn: 

Xin khép lại một trang đời mộng ảo

Vẫy tay chào năm tháng đã đi qua
 
Mai anh về như con chim trốn bão
 
Đứng co mình nhớ biển rộng trời xa

Tảng sáng hôm sau, túi xách trên vai, trở về lại Đà nẵng.

Đêm đó, một mình đến trường, lách vào cánhcổng khép hờ, đứng tựa người vào tượng cụ Phan, nhìnsân trường lá rụng, nghe sân trường lá rụng. Gió lao xao.Cây lao xao.Cảnh vật như chia sẻ nỗi lòng với tôi.Tôi nhìn quanh. Sân trường vắng ngắt. Hành lang vắng ngắt. Học trò lớp này lớp khác đến đây rồi ra đi biền biệt, mê mãi với những chân trời góc bể mù tăm ! Tôi dạy thế hệ cha mẹ, rồi dạy đến thế hệ con cái của họ. Hai thế hệ. Bao nhiêu cuộc đời! Bốn mươi năm mê mãi! Còn lại mình tôi ở đây với một tâm hồn trĩu nặng ưu tư, tóc bạc trắng phau phau và nỗi nhớ nhung dằn vặt . Tôi gọi thầm: Trường ơi! Phan Châu Trinh ơi! Hình như có hai hàng nước mắt đang lăn dài trên má !

Đêm đó, trong giấc ngủ, thấy mình đứng bên bục giảng, bẻ phấn đề thơ :

"Mình về chẻ mộng chia mơ

 Xoã tung tóc trắng đợi chờ lai sinh
 
Trường xưa nắng cứ lung linh
 
Đến thiên thu vẫn đậm tình đó em!”

                 Đà-Nẵng, 2002

(Trích Hồi ký: Một Đời Thầy Một Đời Thơ )

                                                                                        Trần Hoan Trinh

Bài viết khác
Phan Châu Trinh
Video
 
Hình ảnh
Copyright © 2011 Ban liên lạc cựu học sinh Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Designed by thietkewebsitevn.net