Hoạt động » Lịch sử » PHAN CHÂU TRINH - NHÀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA QUẢNG NAM VÀ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
PHAN CHÂU TRINH - NHÀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA QUẢNG NAM VÀ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

     Có thể nói gì về Phan Châu Trinh, có thể thấy gì ở Phan Châu Trinh trong mối quan hệ với nền giáo dục của Quảng Nam và của Việt Nam? Trước hết Phan Châu Trinh không phải là một thầy đồ Quảng dùng chữ nghĩa thánh hiền làm phương tiện tải đạo và mưu sinh, cũng không phải là một thầy giáo kiểu Trần Văn Dư hoặc Nguyễn Duy Hiệu... được giao trọng trách dạy dỗ các vị vua tương lai, càng không phải là một quan chức trong ngành giáo dục Nam triều như tế tửu Nguyễn Đình Tựu hay giáo thụ Trần Quý Cáp... Ông từng lên lớp giảng bài ở Đông Kinh nghĩa thục, nhưng không thuộc danh sách những giáo viên cơ hữu của trường này. Nói theo ngôn ngữ bây giờ, ông chỉ là giáo viên thỉnh giảng, mà chủ yếu cũng được mời đến để đăng đàn diễn thuyết là chính. Bằng chất giọng hùng hồn đặc sệt Quảng Nam, ông xuất hiện trên bục giảng của Đông Kinh nghĩa thục với vai trò chính khách tham gia chính sựtham dự chính trường hơn là với tư cách người làm nghề dạy học. Thế nhưng sẽ là một thiếu sót, thậm chí một tội ác nếu viết lịch sử giáo dục Quảng Nam và giáo dục Việt Nam mà không nhắc đến tên ông. Hơn ai hết, ông xứng đáng được tôn vinh là nhà giáo dục - không, phải gọi là nhà cải cách giáo dục lớn vào bậc nhất của Quảng Nam và của Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX mới đúng. Cả cuộc đời hoạt động sôi nổi và phong phú của Phan Châu Trinh, ông đã dành tâm huyết và sức lực cho công việc nào nhiêu nhất? Xin thưa, đó chính là giáo dục - không, chính là đổi mới giáo dục, tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong giáo dục.

     Khởi sự phong trào Duy Tân, Phan Châu Trinh chọn trong rất nhiều việc phải làm ba việc cần làm trước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh; và trong ba việc cần làm trước ấy, ông xếp khai dân trí - tức là giáo dục - vào vị trí thứ nhất(1). Sự chọn lựa thứ tự ưu tiên của Phan Châu Trinh là do xuất phát từ quan niệm khi dân trí còn thấp kém thì khó mà đặt ra những mục tiêu cao hơn như dân khí, dân sinh, dân chủ, dân quyền... Sau này Lê-nin cũng nói rằng người mù chữ thì đứng ngoài chính trị. Nhưng người mù chữ trong suy nghĩ của Phan Châu Trinh không chỉ là người thất học mà còn là người có học hành hẳn hoi, thậm chí đỗ đạt hẳn hoi. Vì vậy sự chọn lựa thứ tự ưu tiên nêu trên còn xuất phát từ cách đánh giá thực trạng nền giáo dục nước ta đương thời và cách phản ứng ừước thực trạng đáng buồn ấy của Phan Châu Trinh cùng hai người đồng hương, đồng chí của ông là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (Hồ Tá Khanh trong Thông sử Công ty Liên Thành đã gọi chung ba ông là bộ ba Quảng Nam). Trong chuyến Nam du năm 1905, khi tới Bình Định, thấy sĩ phu vẫn tấp nập kéo vào ừường thi lệ hằng tháng dự khảo hạch, ba bậc đại khoa xứ Quảng liền giả danh sĩ tử làm bài thơ Chí thành thông thánh cùng bài phú Danh sơn lương ngọc tuyên truyền tư tưởng duy tần, cảnh tỉnh số đông người học còn mê muội trong giấc mộng vàng khoa cử, dùng tên giả là Đào Mộng Giác (anh chàng họ Đào tỉnh mộng) ký dưới các bài thơ phú ấy đem nộp quyển, chí thành thông ứúnhvầDanh sơn lương ngọc không chỉ tác động mạnh mẽ đến hàng trăm sĩ tử đang lều chõng tại Bình Định mà còn nhanh chóng vượt qua khuôn khổ của ừường thi để đến với sĩ phu khắp ba kỳ, tìm tới những tâm hồn đồng điệu. Cũng có thể kể đây là ngòi pháo đầu tiên của cuộc cách mạng trong giáo dục mà nhóm Phan Châu Trinh - bộ ba Quảng Nam cùng khởi xướng.


     Tuy nhiên theo nhận thức của bộ ba Quảng Nam, nhất là của Phan Châu Trinh thì tư tưởng cải cách duy tân nói chung và tư tưởng cải cách giáo dục nói riêng không thể chỉ nhằm tác động sâu sắc đến giới sĩ phu (như ở các tỉnh Bắc Kỳ và cả ở Đông Kinh nghĩa thục lúc bấy giờ) - mặc dầu làm được như vậy đã là thắng lợi - mà còn cần phải được thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân, trước hết là tại đất Quảng. Muốn thế thì việc làm cấp bách nhất mà cũng cơ bản nhất là phải nhanh chóng mở trường dạy-học theo lối mới. Chỉ trong vòng hai năm từ 1906 đến 1907, ở xứ Quảng trường học duy tân được mở ra nhiều nơi, nổi tiếng như các trường Diên Phong, Bảo An, Phú Bông, Quảng Huế, La Châu, Lạc Thành, Quảng Phước, Phước Bình, Phú Lâm... Như vậy là từ rất sớm, Phan Châu Trinh đã nhìn thấy vấn đề và đã giải quyết khá căn bản mối quan hệ giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục đại chứng theo hướng coi trọng giáo dục đại chúng. Có thể là với thời đại chúng ta, khi mà phổ cập giáo dục đang ừở thành thuật ngữ quen thuộc trong đời sống hằng ngày, chúng ta thấy cách nghĩ của Phan Châu Trinh về đại chứng hoá nền giáo dục cũng bình thường thôi, không lấy gì làm đặc sắc; song nếu đặt vào bối cảnh thời đại Phan Châu Trinh thì đấy chính là điểm căn cốt nhất của một cuộc cách mạng trong giáo dục và không chừng còn là điểm căn cốt nhất của một cuộc cách mạng xã hội - điển hình như Trung Kỳ dân biến năm 1908.


     Nét chủ đạo trong cách nghĩ, cách làm giáo dục được xem là tiên tiến và giàu chất nhân văn của Phan Chầu Trinh cũng như cả bộ ba Quảng Nam nằm ở việc xác định mục đích học tập trong các nhà trường duy tân - các nghĩa thục. Nói chung, số phận lịch sử của những trường học loại này quá ngắn, chưa đủ để có thể hình dung người học khi tốt nghiệp ra trường có được nhận bằng cấp gì không. Nhưng có lẽ từ người chủ trương mở trường, người dạy cho tới người học, chắc không ai nghĩ rằng vào học tại các nhà trường duy tân - các nghĩa thục là cốt để giành được một bằng cấp nào đó. Vì lý do rất giản đơn thôi: nội dung học tập đã khác trước! Cũng có thể hiểu ngược lại: nội dung học tập khác ừước là bởi mục đích học tập đã hoàn toàn không giống trước. Theo tư duy giáo dục của Phan Châu Trinh, người dân bấy giờ đi học ở các nhà trường duy tân - các nghĩa thục là để được biết mình có những quyền gì, và cũng là để được biết mình chưa hề được hưởng những quyền ấy. Đương nhiên, đi học ở các nhà trường duy tân - các nghĩa thục còn là để biết chữ - chữ quốc ngữ, biết buôn bán và biết nhiều thứ khác nữa. Đi học mà cốt để biết những điều cần biết, đi học mà không bị sức ép của bằng cấp và đi kèm là sức ép của thi cử đè nặng, người học dễ đến gần với thực học hơn - thực học ở đây vừa được hiểu là học thực sự - chiếm lĩnh tri thức thực sự và có khả năng sáng tạo thực sự; lại vừa được hiểu là học gắn liền với thực tiễn đời sống, tức là gắn liền những gì thiết thân với số phận của cộng đồng, với đòi hỏi bức xúc của nhân dân.

     Trên đất Quảng ngày nay cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, danh xưng Phan Châu Trinh (và một số danh xưng khác gắn bó với ông như là Tây Hồ, Duy Tân) được dùng để đặt tên cho các trường học. Có điều chúng ta chỉ mới hình dung ra ông là một nhà yêu nước hơn là một nhà cải cách giáo dục - cố nhiên ở đây hoàn toàn không có sự chia tách rạch ròi giữa hai con người này. Chúng ta dễ nhận thấy ý nghĩa quyết định của chủ trương khai dần trí, chấn dân khí, hậu dân sinh đối với đời sống chính trị ở nước ta đầu thế kỷ XX nhưng có thể chưa cảm nhận đầy đủ những đóng góp - cũng là những di sản tinh thần - của Phan Châu Trinh trên lĩnh vực giáo dục, có thể chưa thấy tư duy giáo dục mang tính tiên giác của ông không chỉ vượt trước người cùng thời mà còn không hề tỏ ra lạc hậu so với thời đại chúng ta, sau ông chừng hơn một trăm năm. Hơn một trăm năm rồi mà những ý tưởng như học là để được biết mình có những quyền gì và cũng là để được biết mình chưa hề được hưởng những quyền ấy, hay không coi nhẹ giáo dục tinh hoa nhưng hết sức đề cao giáo dục đại chúng... vẫn như vừa rất quen vừa rất lạ đối với chúng ta.

TRẦN NGUYÊN HẬU
Cựu học sinh

Tất nhiên nhất nhì ở đây là xét trong nhãn quan của tư duy tuyến tính. Xét từ một nhãn quan khác, có thể hình dung khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh như là ba cạnh của tam giác đều, đòi hỏi phải làm cùng lúc vì khó có thể xác định việc nào trước việc nào sau.

Bài viết khác
Phan Châu Trinh
Video
 
Hình ảnh
Copyright © 2011 Ban liên lạc cựu học sinh Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Designed by thietkewebsitevn.net