Sáng tác » DẤU ẤN TỪ MỘT MÁI TRƯỜNG

Nhân Kỷ niệm 89 năm ngày mất nhà yêu nước Phan Châu Trinh

24/3/1926 – 24/3/2015

Phan Châu Trinh


Dấu ấn từ một mái trường


Huỳnh Văn Khánh


Miền Trung đất cày lên sỏi đá.Trước năm 1945, đa số dân sống bằng nghề làm ruộng. Do yêu cầu lao động và không biết kế hoạch hóa, nên gia đình thường đông con. Các bậc cha mẹ đều cố gắng cho con đi học để biết đọc biết viết. Quá trình học cha mẹ chọn một vài đứa ham học, thông minh dồn sức cho học lên với hy vọng làm thay đổi vị trí của gia đình trong xã hội.Mỗi một người con được chọn để học lên đều mang trong mình niềm ước mơ của cha mẹ và gia đình.Học trường nào là một ngẫu nhiên, với tôi, mái trường mang tên nhà yêu nước Phan Châu Trinh như gắn với tôi suốt cả cuộc đời.


Năm 1947 chiến tranh tràn tới quê tôi. Cả làng phải đi tản cư vào vùng sâu gọi là vùng tự do. Trai tráng trong làng đều tham gia lực lượng kháng chiến, những thanh thiếu niên trong độ tuổi đi học ở lại vùng tự do để học chữ. Người già và trẻ em thì quay về vùng bị chiếm để sinh sống.Năm 1953 tôi mới bắt đầu đi học lớp đầu tiên bây giờ gọi là Mẫu giáo. Năm 1954 thì có nhiều người mở trường dạy học trong làng đa số là các anh học sinh lớn ở vùng tự do trở về làng dạy những lớp đầu tiên của bậc tiểu học. Mỗi trường hay nói đúng hơn là mỗi lớp dạy ba bốn trình độ khác nhau từ học vần đến làm toán, viết chính tả,... Trường không đặt tên riêng mà lấy tên gọi của cơ sở làm tên trường: Trường Miếu Xóm, trường Nhà thờ Tộc Phạm, trường Nhà thờ Tộc Huỳnh,...


Bậc tiểu học tôi chưa một lần học trường nào quá 6 tháng và cũng chẳng biết nghỉ hè là gì cả.Thầy dạy một thời gian thì nghỉ vì phải đi học hoặc làm việc khác hoặc bị bắt bị tù vì hoạt động chính trị hoặc nghi ngờ hoạt động chính trị.


Năm 1955 cả làng tôi mở được 4 trường tiểu học, dạy cho đến lớp Ba. Đa số các thầy đều là những học sinh lớn học từ Tam Kỳ, Tiên Phước về dạy, vì trường học của các anh ở vùng tự do từ thời Việt minh để lại phải giải tán, đóng cửa khi quân đội Sài Gòn vào tiếp quản.

Năm 1956 một lần nữa, ba trong bốn trường phải đóng cửa vì chính quyền thu được nhiều truyền đơn viết tay rải khắp nơi đòi Hiệp thương, Tổng tuyển cử. Đa số chữ viết là của trẻ em. Họ cho rằng do các thầy bắt học sinh viết. Họ tìm bắt các anh.Anh ruột của tôi và hai người bạn cùng lứa nằm trong số đó.Các anh trốn một thời gian rồi móc nối với các thuyền đánh cá lớn vượt biển ra miền Bắc.Thế là chúng tôi phải nghỉ học.


Mỗi buổi tối, Ba tôi bắt anh em chúng tôi ngồi vào bàn để học bài như thường lệ, nhưng bài đâu mà học, nào còn thầy giáo cho bài đâu? Lục trong đống sách vở cũ của anh tôi bỏ lại, tôi nhặt được quyển sách Toán, quyển Địa lý Việt Nam, quyển Việt sử, quyển Việt văn Giáo khoa thư,... hầu hết là sách lớp nhất tôi chỉ biết đọc và học thuộc lòng tất cả phần tóm lược sau mỗi bài gọi là Toát yếu. Đọc và làm sạch tất cả những bài tập trong quyển sách Toán.


Trong những quyển tập cũ của anh tôi để lại, tôi biết anh đang học lớp 6 trường Phan Châu Trinh Tam Kỳ có cả danh sách bạn anh học cùng lớp như: anh Đặng Thiện, Mai Quốc Liên, Nguyễn Quyết Thắng, Thân Đình, Hà Mạnh Thu, chị Phan Hồng Hạnh, chị Lê Thị Thanh Thủy,... và có những bức thư gởi thăm bạn viết dở dang.


Một số các anh còn lại không bị tình nghi, tiếp tục ra Đà Nẵng học và trở thành những thầy giáo nổi tiếng ở Đà Nẵng Tam Kỳ. Đặc biệt các anh rất giỏi toán và văn như anh Lê Phước Tăng, anh Đặng Thiện,... Điều đó làm cho tôi có thiện cảm với ngôi trường thời kháng chiến mang tên Phan Châu Trinh đã un đúc ra một thế hệ học trò học giỏi, có ý chí tuyệt vời.


Một sự trùng hợp khá thú vị, Năm 1958 tôi thi đậu vào trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Cả thành phố Đà Nẵng lúc bấy giờ chỉ có một trường học công lập, thi vào trên 2.000 người chỉ đậu 200 người cho 4 lớp đệ thất.


Những ngày học đầu tiên, chúng tôi tập hát bài "Hiệu đoàn ca Phan Châu Trinh” của nhạc sĩ Hoàng Bích Sơn, một người thầy cũng đi kháng chiến trở về dạy nhạc trường Phan Châu Trinh. Từng ý tưởng trong lời ca nói lên con đường Cách mạng của nhà yêu nước Phan Châu Trinh tôi rất thích thú và có niềm tự hào nhất định khi được học dưới mái trường mang tên Người.


Đứng giữa sân trường trong giờ chào cờ buổi sáng, sau bài quốc ca là bài Hiệu đoàn ca Phan Châu Trinh chúng tôi hát vang trong tiếng thổn thức của con tim:


".... Lời ai dư âm vẳng qua rừng

Cùng phá xích xiềng giành lấy dân quyền

Gương Người nêu cao, toàn dân ghi nhớ!

Phan Châu Trinh muôn đời, quyết theo gương Người

Phan Châu Trinh muôn đời chi khí hiên ngang

Là học sinh Phan Châu Trinh ta quyết tiến!

Bước theo chân Người, giữ vững dân quyền

Rèn tâm chí. Quyết chí!

Cùng nhau tiến. Quyết tiến!

Ghi nhớ ơn Người đoàn ta quyết đi lên”


Năm 1962 tôi học Pháp văn do thầy Trần Tấn dạy. Thầy lớn tuổi, rất hiền, thầy không la rầy học sinh bao giờ.Thầy bị cận thị nặng, hình như thầy không nhìn thấy học trò quá hai mét, không phân biệt được học trò khác nhau.Lớp chỉ hơn hai chục học trò, vì một nữa phải học Anh văn sinh ngữ thứ hai.Đến giờ dạy của thầy, nhiều học sinh vọt qua cửa sổ ra ngoài đi chơi thầy không biết. Thỉnh thoảng nghe bạn bè rủ, tôi cũng nhảy qua cửa sổ ra ngoài phố đi lang thang với miếng kẹo gừng nhai âm ấm chống lại cái giá rét của mùa đông khi những cơn gió bấc thổi về.


Một hôm ngồi trong lớp nghe anh Nguyễn Quang Tư nói chuyện về thầy Tấn. Anh biết thầy từ khi học trường Phan Châu Trinh ở Tam Kỳ, có lần cùng thầy xuống Tiên Đỏa mua mắm cái về ăn... Tự nhiên tôi thấy thương thầy lạ thường.Thầy một trí thức già cũng gánh chịu bao nhiêu nhọc nhằng của cuộc kháng chiến.Từ đó tôi không nhảy cửa sổ nữa.Khi vào lớp bắt đầu cho bài mới, thầy thường kêu học trò lên trả bài, đọc thuộc lòng bài Lecture mà thầy đã chép tuần trước. Thầy không kêu tên học trò mà dùng tay chỉ xuống lớp:

-Trò.

Chỗ thầy chỉ tay không có ai ngồi cả. Tôi ngồi bàn sau vội mang tập lên bảng cho thầy xem và đọc thuộc lòng bài Lecture của thầy đã dạy.Lật bảng tên dán ở bìa trước quyển tập, thầy cho điểm vào sổ.


Lại nữa thầy Trần Ngọc Quế dạy văn trường Phan Châu Trinh Tam Ky, năm 1955 thầy về dạy Việt – Hán trường Phan Châu Trình Đà Nẵng. Thầy giỏi chữ Hán, giờ Hán văn thầy chép và giảng những bài thơ của Vương Hàn, Thôi Hộ, Tô Đông Pha…đã dắt chúng tôi vào mê cung của thơ Đường.Nhờ đó chúng tôi mới khám phá được cái giá trị sâu thẳm của Chinh Phụ Ngâm, Truyện Kiều, Cung On Ngâm Khúc… sau này.


Năm 1965 vào Sài Gòn để theo học bậc Đại học, tôi gặp anh Đặng Thiện và sau đó là anh Thân Đình,... đều là bạn học của anh tôi lúc ở Tam Kỳ. Tôi biết các anh đang hoạt động bí mật trong phong trào chống Mỹ ở Sài Gòn.Các anh chưa bao giờ đặt vấn đề với tôi về việc hoạt động chính trị và tôi cũng không muốn thế.Lúc đó tôi chỉ muốn học để ra trường làm việc, lãnh lương nuôi cha mẹ già còn ở quê. Anh tôi,sáu người đã đi biền biệt rồi còn gì?


Anh Đặng Thiện thường gặp tôi, rủ tôi đi nghe các cuộc thuyết pháp ở các chùa do thầy Thích Trí Quang, thầy Thích Thiện Minh, Thích Pháp Lan,... trình bày. Anh cũng đưa cho tôi các tạp chí của Hội Bảo vệ Văn hóa Dân tộc phát hành như tạp chí Tin Văn, tạp chí Văn Học,... những người viết trong đó đa số là người miền Trung. Nội dung nói nhiều về cuộc chiến tranh chống Pháp với các địa danh: Chợ Được, Vĩnh Trinh, Quế Sơn, Tý Sé, Gò Nổi, Cầu Chìm, Hòn Kẽm, Đá Dừng,... tôi nghe đâu đó ở quê tôi, nhưng chưa một lần biết đến.Những bài thơ nói cảnh những người kháng chiến lẫn trốn ở Sài Gòn sống chen chúc trong những con hẻm tối tăm:


Bây giờ đây xa đồng ruộng xa vườn

Xa con bò, xa đống rơm, xa luống mạ

Xa củ sắn, củ khoai xa ôi là xa quá

Sống không nhà chết không mả em ơi!


Nghe những từ: con bò, đống rơm, củ sắn, củ khoai,... sao mà nó thân thương đến lạ kỳ.


Một hôm gặp lại thằng bạn mấy lần thi rớt Tú Tài I vào Sài Gòn tiếp tục học lớp đệ nhị để thi. Nó bảo có thầy Vũ Hạnh dạy văn ở trường Văn Hiến, thầy giảng truyện Kiều hay lắm... Tôi đã đọc nhiều sách của nhà văn Vũ Hạnh như: Người Việt cao quý, Đọc lại truyện Kiều, Truyện kịch Người tỳ nữ,... và nhiều bài đăng trong tạp chí Tin Văn tôi rất thích. Một lần đọc trong tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vĩ có tác giả phê phán hoạt động của Hội Bảo vệ Văn hóa Dân tộc. Họ tố cáo nhà văn Vũ Hạnh là Việt cộng nằm vùng nên cũng tò mò muốn biết mặt nhà văn Vũ Hạnh, một thầy giáo dạy văn trường Phan Châu Trinh Tam Kỳ trong kháng chiến ra sao...


Một hôm có giờ giảng của thầy Vũ Hạnh, thằng bạn đến rủ tôi đi. Vào hội trường trường Văn Hiến ở Tân Định, tôi thấy hội trường kín người, hơn 500 người ngồi chờ nghe bài giảng của thầy. Tôi ngạc nhiên vì số lượng học sinh đông đến thế, nghe nói chuyện thì đúng hơn.Còn học như vậy thì không có chất lượng, làm sao ghi bài?Cả hội trường yên lặng khi thầy xuất hiện. Thầy thông báo đây là bài cuối cùng của tác phẩm Kim Vân Kiều "Giá trị văn chương và luân lý của truyện Kiều” về giá trị văn chương tôi không lưu ý, tôi chỉ theo dõi phần giá trị luân lý. Về giá trị luân lý thầy nhấn mạnh đến sự phê phán của các học giả và nhà văn, có người lên án Kiều, có người thông cảm với Kiều như một hiện thực xã hội.


Nguyễn Công Trứ lên án tác phẩm, mà cụ thể là lên án Kiều một cách không thương tiếc. Thầy đọc nguyên văn bài Vịnh Thúy Kiều của Nguyễn Công Trứ và nhấn mạnh 4 câu cuối:


Bạc mệnh chẳng lầm người kết nghĩa

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm

Bán mình trong bấy nhiêu năm

Đố đem chữ hiếu mà nhầm được ai!


Đối với Trần Kế Xương, nhà thơ một đời lãng mạn cũng tỏ thái độ mỉa mai:


Tiếng trống ân tình đã dậy vang

Tướng quân chi tiếc cánh hoa tàn

Đôi làn nước mắt, đôi làn sóng

Nửa đám ma chồng nửa tiệc quan.


Nguyễn Khuyến thì nhẹ nhàng hơn, ông lên án cái xã hội đã tạo ra sự bất hạnh của Kiều, ông lấy việc bán thân của Kiều mà phê phán xã hội đương thời:


Đón khách mượn màu son phấn mụ

Đem thân chuộc lấy tội tình cha

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?

Đời trước làm quan cũng thế a?


Thầy đọc những vần thơ lên án Kiều, cũng như những lời thông cảm chia sẻ với Kiều.Thầy nhấn mạnh về nguyên nhân xã hội.Chế độ phong kiến, chuyên chế, độc quyền, thối nát là nguyên nhân của tệ nạn xã hội.Kiều là một tài hoa điển hình, và cũng là nạn nhân điển hình trong một xã hội bất công... chỉ có cách mạng xã hội mới giải quyết được những bất công của xã hội.


Đọc những bài trong các tạp chí mà anh Đặng Thiện và anh Thân Đình đưa cho tôi.Suy ngẫm về bài nói chuyện của anh Vũ Hạnh, tôi có cảm giác các anh đang thúc giục tôi phải làm gì đó.Và tôi đã trở thành một thành viên trong phong trào chống Mỹ ở Sài Gòn lúc nào tôi không biết.


Tôi phải vận động những người khác cùng tham gia với tôi, đặc biệt là những bạn học cùng lớp tại trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng có mặt ở Sài Gòn.Tôi không cần phải nói nhiều mà chỉ hát lại đoạn cuối của bài Hiệu đoàn ca Phan Châu Trinh:


"... Là học sinh Phan Châu Trinh ta quyết tiến bước theo chân Người...”thì anh em đồng ý tham gia ở mức độ khác nhau vào tổ chức chống Mỹ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.


Sau 30/4/1975 tôi hoạt động trong bộ máy Chính quyền Cách mạng. Ở bất cứ cương vị nào và hoàn cảnh nào tôi cũng quyết theo đuổi lý tưởng tạo ra một xã hội tốt đẹp mà con người là đối tượng của mọi hoạt động. Thế nhưng cương vị nhỏ bé của mình không thể tác động đến những tiêu cực của xã hội.Đến năm 1990 tôi đứng ra vận động thành lập quỹ học bổng Phan Châu Trinh để giúp đỡ cho những học sinh nghèo học giỏi như một nghĩa cử an ủi chính mình vì không làm được những việc lớn hơn.


Ban chủ nhiệm gồm những người bạn học trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng và những người yêu mến con người và sự nghiệp của nhà yêu nước Phan Châu Trinh người lãnh đạo phong trào Duy Tân vào đầu thế kỷ 20. Ông chủ trương đấu tranh giành độc lập dân tộc bằng phương pháp hoàn toàn mới so với phương pháp của những nhà yêu nước trước đó trong phong trào Văn Thân và phong trào Cần Vương. Việc giúp đỡ cho một bộ phận học sinh nghèo khao khát tri thức cũng là sự thừa kế sự nghiệp của Người, đồng thời biết ơn một nhân cách suốt đời đấu tranh cho sự độc lập dân tộc với khẩu hiệu: "Khai dân trí, chấn dân khí...”


Quỹ học bổng mỗi năm cấp được hơn 150 suất, với giá trị mỗi suất từ 300 ngàn đồng đến 600 ngàn đồng, đến nay đã nâng lên từ 800 ngàn đồng đến 2 triệu đồng vẫn thấy còn khiêm tốn so với nhu cầu của học sinh.


Việc vận động cho quỹ học bổng càng lúc càng khó khăn, nếu cứ tiếp tục vận động thì bạn bè giảm dần.Trong những năm gần đây, việc ủng hộ quỹ học bổng chỉ là sự tự giác của những người có tấm lòng nhân ái, cảm thông sự khó khăn của Ban chủ nhiệm.Khi có điều kiện thì họ mang đến đóng góp giúp đỡ.Gánh nặng dồn lại cho một số anh em trong Ban chủ nhiệm. Có lúc chúng tôi muốn giải tán quỹ nhưng suy đi nghĩ lại, chừng ấy tiền mà mình làm không được thì những ước mơ bay bổng của tuổi trẻ ngày nào không lẽ là hoang tưởng. Quỹ học bổng đã kéo dài 25 năm nay sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển. Ban chủ nhiệm quyết cất cao lời ca:


"Rèn tâm chí. Quyết chí!

Cùng nhau tiến. Quyết tiến!

Ghi nhớ ơn Người.Đoàn ta quyết đi lên.”


Sài Gòn, ngày 20-3-2015

Bài viết khác
Phan Châu Trinh
Video
 
Hình ảnh
Copyright © 2011 Ban liên lạc cựu học sinh Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Designed by thietkewebsitevn.net